NAM TÔN NỮ TI

NAM TÔN NỮ TI (男尊女卑)

Kết quả hình ảnh cho nam tôn nữ ti

Thành ngữ “Nam Tôn Nữ Ti” đã là tiếng rất xấu ngày nay, nghe qua ai cũng phải đả phá, khi mà nó xúc phạm đến nhân phẩm người phụ nữ. Như các từ điển thành ngữ tiếng Việt thường giải nghĩa: “Một quan niệm phong kiến lạc hậu cho đàn ông là đáng trọng, đàn bà là đáng khinh; Trọng nam khinh nữ”.

Người ta đổ mọi tội cho cái thời “phong kiến” nó như vậy.

Một cách khách quan để đặt vấn đề: Người xưa (thời phong kiến) luôn chú trọng về đạo lý, luôn dạy con người phải có luân lý, đạo đức, không lẽ lại dạy con người khinh người phụ nữ sao ? Như vậy là khinh cả mẹ, cả vợ và con gái, chị và em gái mình nữa. Không lẽ người xưa dạy lỗi đạo như thế sao ? Đạo Phu Phụ, Đạo Hiếu ở đâu ? Đây là sự mâu thuẫn khó có thể chấp nhận được.

Vậy nguyên nhân của nó từ đâu ?

Bắt đầu từ ý niệm của dân gian, một số người chưa nắm vững hoặc cố ý lợi dụng để lạm quyền, tiếp đến là các người làm văn hóa, giáo dục, chính trị đã vô tình hay cố ý khai thác (nâng cao quan điểm mà chỉ dựa vào một số hiện tượng tiêu cực).   

Từ bước đầu, người ta đã vô tình hoặc cố ý dịch sai chữ “tôn” (尊) và chữ “ti” (卑).

Nếu dịch chữ “tôn” là “trọng” thì còn ổn, vì có thể hiểu là sự tôn trọng, khi nó đứng một mình. Nhưng tai hại ở chỗ lại dịch chữ “ti” là “khinh miệt”. Khi ghép “Nam tôn nữ ti” sẽ trở thành “Trọng nam khinh nữ”, nghĩa là người nam được đưa lên cao (tôn), đáng quý trọng, ngược lại, người nữ đáng bị khinh bỉ. Một sự hiểu lầm tai hại và nguy hiểm.

Theo gốc về chữ Tôn (尊 ):

Từ điển Dào Duy Anh: Tôn là Quý trọng, kính trọng. Còn Ti là thấp, ngắn, hèn, lời tự khiêm.

Từ điển Thiều Chửu: Tôn là Tôn trọng, Kính, như tôn trưởng, tôn xứ. Còn Ti là thấp, hèn, tiếng nói nhún nhường với người trên (chữ hèn đồng nghĩa với chữ “thấp”, “ở dưới”, chứ không phải hèn hạ, khinh miệt).

Như vậy thành ngữ “Nam Tôn Nữ Ti” không phải ý muốn nói là nam giới thì cao quý, còn phụ nữ thì thấp hèn như nhiều người thường hiểu. Chữ “Tôn” (Cao) và “Ti” (Thấp) trong câu “Nam tôn nữ ti” vốn có nguồn gốc từ đạo lý Âm Dương hòa hợp của “Kinh Dịch”.

Theo nhà nghiên cứu Châu Huệ Tâm,

Hàm nghĩa của câu “Nam tôn nữ ti” là ý nói rằng nam giới có đặc tính khí chất của người nam, nữ giới có đặc tính khí chất của người nữ, điều này đã quyết định sự phân công các nhiệm vụ vai trò khác nhau của nam nữ trong gia đình, nam nữ tuân thủ nghiêm ngặt vị trí của mình, gia đình tự nhiên sẽ êm ấm thịnh vượng.

Câu “Nam tôn nữ ti” xuất phát đến từ “Kinh Dịch”, trong “Kinh Dịch Hệ Từ” có viết: “Thiên tôn địa tị, càn khôn định hĩ. Ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ … càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ.” (Trời ở trên cao Đất ở dưới thấp, càn khôn đã được định rõ vậy. Lấy tôn cao ti thấp để trình bày rõ, địa vị cao thấp ra sao đã sẵn ở vị trí đó rồi … Cung Càn tạo thành Nam, cung Khôn tạo thành Nữ).

Trong đó “Tôn” là cao, “Ti” là thấp. Là hai từ chỉ vị trí cao thấp. “Thiên Tôn Địa Ti” là để diễn tả ý nghĩa “Trời ở trên Đất ở dưới, Trời cao Đất thấp”, là một cách dùng để miêu tả trạng thái tự nhiên. Trong “Thuyết Văn Giải Tự” có viết: Tôn, được gọi là cao vậy. Trong cuốn từ điển “Quảng Nhã” giải thích: Ti, lùn thấp vậy. Trong cuốn từ điển “Quảng Vận” viết : Ti, ở bên dưới vậy.

“Kinh Dịch” là miêu tả quy luật vận hành của thiên thể vũ trụ. Tư tưởng trung tâm cuối cùng của nó là quy về Âm Dương cân bằng. Phàm là những sự vật không cân bằng, không hòa hợp, cuối cùng nhất định đi lệch khỏi đường lối và quỹ đạo. Vạn sự vạn vật trong vũ trụ cuối cùng đều tất yếu hướng về hòa hợp và cân bằng. Một tư tưởng trung tâm khác của “Kinh Dịch” , chính là Âm Dương tự có vị trị của nó, Thiên tại vị trí của Trời, Địa ở vị trí của Đất; Âm tại vị trị của Âm, Dương tại vị trí của Dương.

Thiên địa, âm dương, nam nữ là một phương pháp “phân loại” của cổ nhân. “Nam tôn nữ ti” chính là từ “Thiên tôn địa ti” khai triển diễn biến mà sinh ra. Bổn ý của nó là nói “Nam nữ là không giống nhau”. Đây là một cách phân chia của thiên nhiên, trạng thái tự nhiên.

Nam tôn: Làm một người đàn ông – tạo vật đặc biệt của tự nhiên, nếu muốn hợp với “Đạo”, nhất thiết phải giống như Trời. Cao vang công chính (ở địa thế trên cao, âm thanh vang rộng công bằng chính trực), tự cường bất tức (tự mình cố gắng mạnh mẽ không nghỉ), tức là: “Thiên hành kiên, quân tử dĩ tự cường bất tức” (Trời hành theo đạo kiện toàn, người quân tử đi theo đạo không ngừng tự vươn lên).

Nữ ti: Làm một người phụ nữ – tạo vật đặc biệt của tự nhiên, nếu muốn hợp với “Đạo”, nhất định phải giống như Đất, to lớn khiêm nhường, bao dung, lấy đức dày chở muôn vật, vô tư vô oán, chính là: “Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu tải vật“ (Đất ở tại vị trí của cung Khôn, người quân tử lấy đức lớn mà mang tải vạn vật).

“Nam tôn nữ ti” đề xướng hòa hợp của tự nhiên, âm dương đều có an bài vị trí của mình. Vì vậy “Nam tôn nữ ti” là giảng đạo lý nam nữ nên sống hài hòa như thế nào trong hôn nhân và đời người, và không có nội hàm nam nữ bình đẳng. Một người đàn ông phẩm cách cao thượng, người phụ nữ tự nhiên sẽ tôn trọng anh ta, thuận theo anh ta. Trong gia đình, nam nhân chính trực cao thượng, nữ nhân nhã nhặn khiêm hòa, khoan dung; thì gia đình không có một lý do nào của sự bất hòa. Ở trong xã hội và gia đình như vậy, người phụ nữ cũng tự nhiên có được địa vị tương ứng và sẽ không có sự kỳ thị.

Nó là sự khác biệt nam nữ và nhiệm vụ của mỗi người.

Mạnh tử nói: Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín, thử nhân chi đại luân dã. Dã tựu thị ngũ luân (Cha con gần gũi thân thiết, vua tôi nhân ái có đạo nghĩa phép tắc, vợ chồng có sự khác biệt, huynh trưởng và trẻ nhỏ có trật tự trên dưới, bạn bè thành thật tin tưởng. Đai Luân của người này, ở đây cũng chính là năm điều luân thường đạo lý).

Phu (chồng) tựa như thiên (trời), phụ (vợ) tựa như địa (đất). Thiên, nhật nguyệt chiếu rọi, vân vũ hành theo, tưới nhuần đại địa; Địa, gánh đỡ sơn hà, dựng dục trường dưỡng (ấp ủ mầm sống, nuôi nấng dưỡng dục), nhân loại vạn vật, đời đời phồn vinh, sinh sôi không ngừng. Phu (chồng), bảo hộ gia đình, để gia đình không chịu bất kỳ tổn hại; thê (vợ), mang hoài thai nghén, bồi dưỡng giáo dục con cái. Chính là phù hợp đạo lý âm dương, nam nữ phân công bất đồng, nếu như cả hai đều tận tâm với chức trách của mình, thì gia đình tự nhiên được hòa thuận.

Trái lại, nếu như trời không có mưa, thì đất khô hạn, cuộc sống của chúng ta ngay lập tức hỗn loạn; cũng giống như vậy, chồng không kiếm tiền, vợ mất đi chỗ dựa, cuộc sống gia đình ngay lập tức phát sinh rối loạn. Lại nhìn xem hiện tượng tự nhiên, hoa cỏ cây cối là không thể ly khai khỏi mặt đất, chính như em bé cũng không thể rời xa khỏi mẹ vậy, đạo lý trong đó vi diệu. Có thể thấy vợ chồng có nhiệm vụ trong gia đình khác nhau, mà không thể thay thế lẫn nhau.

……………………

Để kết luận, ta thử đặt vấn đề, nếu người xưa nhìn vào cách nghĩ, cách hiểu, cách sống của cái thời “tự do”, thời “dân chủ” hiện nay, họ thấy vấn đề đạo đức, luân lý hôm nay như thế nào ? – tội ác, phá thai, gia đình tan vỡ, vô luân, mầm mống hủy diệt, trụy lạc, duy hưởng thụ, tha hóa tinh thần mọi mặt, tàn phá thiên nhiên, nhiều xáo trộn và bất hạnh… mà đòi lên án họ (thời phong kiến). Hoặc nếu thế hệ tương lai, được sống trong một thế giới mà công lý ngự  trị, nền “văn minh tình thương” tràn đầy, họ sẽ nhìn lịch sử cái “thế giới tự do” hôm nay như thế nào ? Họ có lên án không ?

Hàn Cư Sĩ (tham khảo & biên soạn)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *