LỜI THÌ THẦM

Những “Lời Thì Thầm” được khởi đầu từ chính trong nội tâm của tác giả. Nó được cảm nhận trong tâm hồn nhạy cảm, tế nhị, thi vị về cảnh vật tươi đẹp, phong phú và sinh động. Tác giả suy tư và nhận ra sự diệu kỳ của nó trong tâm tư, tình cảm được gắn liền với chân lý mà Thiên Chúa đã thổi hơi vào mọi nơi mọi chốn. Ở đó tác giả như giới thiệu và mời gọi người đọc cùng mình chiêm niệm và chiêm ngắm những lẽ huyền vi về con người, thiên nhiên, vũ trụ và Thiên Chúa. Nó như “vạn vật đồng nhất thể”, từ “tiểu vũ trụ” cho đến “đại vũ trụ” mà Thiên Chúa cầm quyền và là chủ của mọi sáng tạo. Ta có thể nhặt ngẫu nhiên, dù có cân nhắc, những câu trong thơ Haiku của tác giả.

Mênh mông là biển nước

Thênh thang là núi đồi

Con nhỏ bé Chúa ơi!

Teresa Như Hà sáng tác một loạt thơ cùng thể loại, gồm những chùm thơ ngắn, được gọi là thơ Haiku, có xuất xứ từ Nhật, với kết cấu hư không, như tranh thuỷ mặc của Trung Quốc, thường rất đơn sơ với một vài đường nét giàu sức gợi. Những nét chấm phá trong thơ rất giàu tính tượng trưng, còn lại là khoảng trống không gian. Từ những khoảng hư không trong thơ, người đọc có thể thả hồn liên tưởng đến những tầng ý nghĩa sâu thẳm, rộng lớn. Chỉ với  trên dưới 10 từ, nhà thơ thường phác hoạ hay gọi tên một cách khách quan một vài hình ảnh hay âm thanh, chứ không diễn giải, lí luận dông dài. Ngôn từ cực tiểu đã tạo nên khoảng trống tối đa bên ngoài bài thơ buộc người đọc phải tưởng tượng tìm sợi dây kết nối chúng lại.

Mưa dưới biển

Mưa trên đồi

Mưa giữa lòng tôi

Tính thẩm mỹ của thơ Haiku rất tinh tế. Nó đề cao cái tịch lặng, đơn sơ, u huyền, mềm mại, thanh khiết, nên tác giả để lại trong lòng người đọc âm ba nhẹ nhàng, sâu lắng.

Tiếng chổi dừa

Rẽ không gian yên tĩnh

Nụ cười hiền lá khô

……………..

Người yêu của tôi

Đôi chân như đôi trụ bạch ngọc

Dựng trên đế vàng ròng (x.Dc 5,15)

           Ngày nay thơ Haiku thoáng hơn nhiều, không gò bó số chữ trong mỗi câu (tổng cộng trên dưới 17 âm hay chữ), không nhất thiết phải chấm, phết hoặc chấm phết tuỳ tiện (không cần phải ở cuối câu), không cần đặt tựa, không bắt buộc phải có từ của mùa, chỉ giữ lại hình thức 3 câu, đưa vào những từ ngữ chắt lọc, tính ẩn dụ của cái hữu hạn hoặc vô hạn.

Trong thơ tác giả như có vẻ khách quan, dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện đã quan sát được. Nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả, một tình cảm nhè nhẹ, bàng bạc trong cả bài thơ, nói lên niềm vui hay sự cô đơn, đôi khi cũng nêu ra điểm tác giả thắc mắc về cuộc đời của con người ngắn ngủi, phù du, lạc lõng… trước sự vĩnh hằng của trời đất. 

Giấc mộng chưa thành

Trái tim khắc khoải

Sớm mai không nắng hồng (x.Cn13,14)

…………….

Kiếp phù sinh

Tháng ngày vắn vỏi

Như cỏ nội hoa đồng (x.Tv 103,15)

Kỹ xảo của thơ Haiku là giản lược tối đa chữ nghĩa trong thơ để vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc. Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ rất tinh tế và hài hòa của đất trời. 

Ước chi

Rễ tôi lan ra tận nguồn nước                                         

Cành lá đọng sương đêm. (x.G 29, )

Đã du nhập vào Việt Nam cả nửa thế kỷ, cho tới nay, thơ Haiku vẫn còn chỗ đứng rất khiêm tốn, so với thơ tự do và các thể loại thơ truyền thống. Không phải nó khó, cũng không phải nó không hấp dẫn, mà nguyên nhân ở chỗ nó đòi hỏi người sáng tác phải có một “nội lực thâm hậu”, chẳng khác gì sự cô đọng, sự thâm thúy của một câu danh ngôn. Nhưng hơn thế nữa, thơ Haiku thường mời gọi sự tri âm, đồng sáng tác của độc giả. Người đọc phải hoá thân, lặn sâu vào lòng sự vật để khám phá điều ẩn giấu trong đó.

Thơ Haiku được sáng tạo bởi các thiền sư Nhật Bản, nên nó cô đọng, siêu thoát, tĩnh lặng, hư không…, nhưng lại dùng hình ảnh trước mắt mà ai cũng thấy, với ngôn ngữ rất bình dị, đời thường, chứ hiếm khi sử dụng thuật ngữ hay ngôn ngữ bác học.

Thời kỳ thảo muội

Ngọn cỏ vàng xanh

Dấu chân Chúa và con

……………….

Mùa gặt

Đồng lúa mỉm cười

Đàn én tung bay

Hình ảnh và ngôn ngữ bình dị đó, thi nhân đã soi sáng và thổi vào đó một sức sống mới, một tinh thần mới, gợi lên những chiều kích về tư tưởng, đạo lý, vẻ đẹp, và sức hấp dẫn của nó thật lung linh, người đọc có thể nhận ra được bằng cả con mắt của giác quan cùng với tâm hồn, con tim và lý trí.

Ở đây Teresa Như Hà qua chặng đường suy tư đã cảm nghiệm và rút tỉa những câu trong Kinh Thánh thật sâu sắc, cho nó cái hồn thơ, khiến nó bay cao bay xa, biến nó thành những câu “danh ngôn” bất hủ, giúp người đọc vươn khỏi cái tầm thường của thân phận hèn yếu.

Đòn vọt bầm thân thể

Nhưng cái lưỡi

Làm dập gãy cả xương (x.Hc 28,17)

…………………….

Đức Khôn Ngoan

Thấu hiểu các mãnh lực thần thiêng

Và tư tưởng con người (x.Kn 7,20)

Ngoài ra, tác giả có nói về sứ vụ của mình:

Như đến cuối chân trời

Miền đất Phương Nam

Con đã đi xa,

Qua chặng đường sứ vụ khắp đó đây của tác giả, đặc biệt nơi miền Tây vùng sông nước, đã để lại cho tác giả những ấn tượng, những hình ảnh đẹp với nhiều cảm xúc da diết về cảnh vật thiên nhiên, được hòa trộn mang tính nguyện cầu và chiêm niệm. Đẹp làm sao khi “người được sai đi” đã  hóa giải những cam go nhờ sự nhiệt thành mang tính thi vị trong một sứ mạng, khiến núi đồi, sông nước, danh lam thắng cảnh như cũng đồng hành và hòa mình cùng với tác giả để nguyện cầu.

Gió đưa lời kinh

Vượt khe đồi vách đá

Dãy Cô Tô ẩn mình

………………

Phía trước sương mù

Phủ kín dãy Thất Sơn

Thấm đẫm lời kinh

            Bức tranh đẹp của Thiên nhiên với sơn thủy hữu tình hiện ra trước mắt khiến thi nhân không thể cầm lòng, để mải mê chiêm ngắm như quên mình đang là gì và đang làm gì. Có lẽ nhờ thế, con đường sứ vụ của tác giả được “thênh thênh cử bộ”, tiến bước nhẹ nhàng, nhận ra Thiên Chúa mọi nơi mọi chốn trong những vẻ đẹp của tạo vật mà Ngài đã dành cho con người.

Phụng Hoàng Sơn

Sơn thủy hữu tình

Bốn bề gió lộng

……………….

Điện Bồ Hong

Mây mù sương trắng rơi

Chốn bồng lai tiên cảnh

            Đọc tiếp sẽ thấy cuốn phim hiện ra bao cảnh đẹp, hùng vĩ, thơ mộng mà tác giả đã đi qua và chiêm ngắm.

Để mà:

Lời kinh như gió nhẹ

Như mây trắng ngang đồi

Phía cuối trời Tây Nam

Nhưng tổng thể tập thơ, tác giả có ý “khai thác” từ nguồn trong Kinh Thánh. Về sách Công giáo có lẽ chưa có tập từ điển về những “danh ngôn” trong Kinh Thánh. Điều này đáng tiếc lắm sao! Trong khi các loại danh ngôn thế giới, cách riêng của Khổng, Lão, Phật thì quá dồi dào. Nó lan rộng trong đại chúng mà mọi người thường trích dẫn để đào sâu tư tưởng, đạo lý, luân lý, văn hóa cho mọi tầng lớp trong xã hội. Dường như Kyto hữu có chút “mặc cảm” nào đó khi tránh né những “danh ngôn” trong đạo. Trong khi đó, Kinh Thánh lại là nguồn phong phú vô cùng về tư tưởng, đạo lý, nhân bản, từ tự nhiên đến siêu nhiên. Như “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Khổng) thì ai cũng biết, mà tích cực hơn nhiều với câu “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6, 31) thì chẳng mấy ai biết. Hoặc VÔ VI (Lão Tử) tuy khó hiểu nhưng ai cũng nghe, còn như “Có vợ như không có vợ, khóc lóc như không khóc, vui như chẳng vui, mua sắm như chẳng có gì, hưởng dùng của cải như chẳng hưởng.”  (1Cr 7, 29-31) lại thật hay và cao siêu thì mấy người nghe.

Như ai cũng biết, Kinh Thánh là loại sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất thế giới, và tất nhiên cũng phát hành vào bậc nhất. Vậy mà nhiều khi người Kito hữu lại coi nhẹ như thể nó kém giá trị hơn những loại sách khác.

500 bài Haiku cũng là 500 “danh ngôn” được tác giả thổi vào đó cái hồn thơ để nó bổng bay lên vút trời cao. Một chút nhỏ nhoi và khiêm tốn, Teresa Như Hà đã cống hiến cho đời, cho mỗi Kyto hữu. Đó là điều đáng trân trọng và khuyến khích, để tác giả và những ai có cùng ước nguyện sẽ triển khai, phát triển, sáng tạo thêm. Hy vọng sau này nó sẽ trở thành “Từ Điển Danh Ngôn Kinh Thánh” cho mọi thế hệ. Nhờ nó người ta có thể tra cứu và dùng trong nghệ thuật để viết trên đá, trên gỗ, trên vải, trên giấy làm lưu niệm.

“Tích tiểu thành đại”, “góp gió thành bão”, tác giả khởi đầu, và còn nhiều nhiệt huyết cùng với thi hứng để tiếp tục làm công cụ đóng góp “thần khí” vào cánh đồng lúa vàng trên quê hương Việt Nam bằng con đường nghệ thuật của mình.

Nguyện xin Thiên Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse chúc lành cho tác giả và cho tập thơ nhỏ bé này.

Hàn Cư Sĩ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *