VĂN HÓA VIỆT NAM: NÉT ĐẸP VÀ NHƯỢC ĐIỂM

I/ NÉT ĐẸP

            Các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng Đông Nam Á là một trong những cái nôi hình thành con người, mà xét về cội nguồn thì không gian văn hóa Việt Nam vốn được hình thành trên nền không gian của khu vực Đông Nam Á. Việt Nam lại là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hóa khu vực, nên có thể nói: Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ.

Văn hóa Việt Nam xuất phát từ gốc nông nghiệp, sống định cư, trồng trọt chủ yếu là lúa nước ở những đồng bằng ẩm thấp.Vì sống lệ thuộc vào thiên nhiên nên người Việt Nam rất tôn trọng và  hòa hợp với thiên nhiên, tôn trọng sự sống, tư duy và nhận thức theo lối tổng hợp và biện chứng (những mối quan hệ), dựa vào kinh nghiệm, cảm tính và chủ quan.Trong quan hệ và ứng xử thì người Việt Nam rất trọng tình cảm, trọng đức độ, trọng văn, trọng phụ nữ, sống linh hoạt, hiếu hòa và dân chủ. Đối với bên ngoài thì dễ dung hợp trong tiếp nhận và mềm dẻo trong đối phó. Đó là loại hình văn hóa GỐC NÔNG NGHIỆP  (trọng tĩnh, âm).

Người Việt Nam luôn đặt cái tình lên trên cái lý (một bồ cái lý không bằng một tý cái tình), coi trọng người lớn tuổi (kính lão đắc thọ, 70 học 71), rất thích giao tiếp và quan tâm tới mọi người bằng cách luôn chào hỏi và thăm viếng nhau (hỏi tuổi tác, sức khỏe, gia đình, con cái, làm ăn), có tinh thần hiếu khách (khách đến nhà chẳng gà thỉ gỏi, bởi lẽ đói năm, không ai đói bữa). Sống bằng nông nghiệp nên người Việt Nam rất cần cù, nhẫn nại, tiết kiệm nhưng lại coi trọng danh dự  (tốt danh hơn lành áo ; đói cho sạch, rách cho thơm ; trâu chết để da, người chết để tiếng), có lối giao tiếp tế nhị, nhân ái, hiếu hòa, nhường nhịn (ăn có nhai, nói có nghĩ ; chó ba quanh mới nằm, người ba lăm mới nói ; một sự nhịn là chín sự lành ). Vì tính cộng đồng cao nên người Việt Nam xưng hô rất khiêm tốn, không có cái TÔI của “ cá nhân chủ nghĩa” ( lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau ), cũng chuộng sự hài hòa nên có tính hay cười, tạo được sự quân bình về tâm lý và tình cảm, nhất là vui vẻ trong lời chào hỏi (tiếng chào cao hơn mâm cỗ ).

Đặc biệt người Việt Nam rất coi trọng gia đình (là tổ ấm), có xu hướng liên kết với nhau, thành một tập thể gắn bó, mà gia đình là đơn vị cơ sở tạo thành gia tộc (đại gia đình). Các cụ rất hãnh diện nếu họ đứng đầu một gia đình quần tu được bốn thế hệ (tứ đại đồng đường). Sức mạnh của gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc thương yêu nhau (xảy cha còn chú, xảy mẹ bú dì ; nó lú nhưng chú nó khôn ; một người làm quan cả họ được nhờ). Sự phân biệt tôn ti trực tiếp của gia tộc rất rạch ròi tới chín thế hệ (cửu tộc): Kị / cố, cụ, ông, bố, TÔI, con, cháu, chắt, chút. Bởi vậy thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng rất hệ trọng đối với người Việt Nam, vì tin rằng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom và phù hộ cho con cháu. Ngay cả những người không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên trong nhà. Đối với người Việt, nó gần như một thứ tôn giáo mà dân gian gọi là ĐẠO ÔNG BÀ (Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn sáng mắt ông cha không thờ).

Văn hóa Việt Nam đưa  đến sự tổ chức thành những làng xã rất quy củ, nên nó mang tính CỘNG ĐỒNG và tính TỰ TRỊ rõ nét, có những “lệ làng” được mọi người tôn trọng (luật vua thua lệ làng). Tính cộng đồng chú trọng vào sự  ĐỒNG NHẤT nên mọi người luôn đoàn kết tương trợ lẫn nhau (lá lành đùm lá rách ; khôn độc không bằng ngốc đàn). Mọi người sống không thể thiếu được anh em họ hàng (một giọt máu đào hơn ao nước lã), nhưng đồng thời cũng không thể thiếu được bà con hàng xóm trong sự quan hệ chặt chẽ từ xóm tới làng (bán anh em xa mua láng giềng gần).

ĐÌNH LÀNG : Là trung tâm hành chính, tín ngưỡng, văn hóa. Mọi việc quan trọng đều diễn ra ở đình: Hội đồng kỳ mục, lý trưởng, lý dịch, thu thuế, xử án, quan trên hành cung đều làm việc ở đình. Đình cũng là nơi thờ thần Thành hoàng (vị khai sáng ra làng), cũng là nơi tổ chức các lễ hội, tổ chức ăn uống  (đình đám), còn sân đình để diễn chèo, tuồng. Đình còn là nơi gắn bó những tình cảm thân thương nhất

Qua đình ngả nón trông đình,

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

——————-

“Hôm qua tát nước đầu đình

Để quên chiếc áo trên cành hoa sen…” 

Nhìn qua đình làng, ta còn thấy ở đó lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, ”uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam. Tuy đình là của dân làng, nhưng thần không hẳn là người của làng. Hơn nữa, người Việt Nam thừa hưởng nhiều tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thủy, nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần núi, thần biển, thần nước (thần Tản Viên)… ở Phù Ninh (Phú Thọ) thờ thần Đá Trắng, vùng đồng bằng thờ thần cá, thần rắn… Tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp nối nhau tạo thành một nền vǎn hoá đình, một nền vǎn hóa hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng xã cộng đồng Việt Nam.

BẾN NƯỚC (hoặc giếng nước, đối với làng không có sông chảy qua) là nơi tập họp của người phụ nữ để giặt giũ, lấy nước, vo gạo, rửa rau… và chuyện trò, tâm sự, giao tiếp, chòng ghẹo và giao duyên với nhau. Bao câu chuyện và kỷ niệm tươi đẹp và thú vị đều diễn ra nơi đây. Nó còn ẩn tàng “bến nước” của người con gái: “trong nhờ, đục chịu”. Thân con gái như chiếc đò, hoặc gặp bến  trong, hoặc mắc bến đục, gặp người tốt hay phải người xấu, may thì nhờ, rủi thì chịu – Người ta con sánh 12 bến nước: công, hầu, khanh, tướng; sĩ, nông, công, thương; ngư, tiều, canh, mục.

Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

——————–

Kết quả hình ảnh cho giếng làng

Em thôi gánh nước giếng làng

Tôi không còn gặp trăng vàng đong đưa

Giọng cười mát cả ban trưa

Sâu nơi đáy giếng ai vừa múc lên

CÂY ĐA cổ thụ đầu làng thường có miếu thờ, là chốn linh thiêng, nơi hội tụ thần thánh (thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề ; sợ thần sợ cả cây đa). Dưới gốc cây đa có quán nước, là nơi nghỉ chân gặp gỡ những người đi làm đồng, những khách qua đường, là của sổ liên thông với thế giới bên ngoài.

Trăm năm còn lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác xưa.

LŨY TRE bao kín quanh làng như một thành quách để bảo vệ làng khỏi bị xâm phạm, nó nói lên tính tự trị (khép kín) của mỗi làng, biểu hiện cái tinh thần tự lập bằng lối sống tự cung tự cấp trong đức tính cần cù, nhẫn nại của người Việt Nam.

Cùng với mái đình, cây đa, bến nước, con đò… luỹ tre xanh quanh làng đã trở thành hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt . Đó là những hình ảnh tiêu biểu, thân thuộc ở mỗi làng quê Việt Nam. Nói tới làng mà không nhắc đến hình ảnh lũy tre thì thật là thiếu xót. Tre có trong cuộc sống từ cái que tăm, đôi đũa, cái chổi tre đến cán dao, rựa, cuốc, gầu tát nước, cho đến ngôi nhà tranh tre, chiếc chõng tre trưa hè…

Làng tôi nhỏ bé xinh xinh
Chung quanh có luỹ tre xanh rườm rà,
Trong làng san sát nóc nhà,
Đình làng lợp ngói có vài cây cau,
Chùa làng rêu phủ mái nâu
Dân làng thờ cúng để cầu bình an

Kết quả hình ảnh cho nhà thờ bờ hồ

ĐỐI VỚI NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM:

ĐÌNH LÀNG không còn nhưng có NHÀ THỜ giáo xứ để tập trung giáo dân cử hành cuộc Tế Lễ Thánh. Là nơi an ủi cho người sầu khổ, cho người tội lỗi được thứ tha. Là nơi tổ chức các lễ hội mang sắc thái văn hóa dân tộc nhưng theo tinh thần Phúc Âm. Là nơi giáo dân gặp gỡ nhau để chia sẻ tình huynh đệ và sự hiệp nhất. Là nơi học hỏi, đối thoại, giao lưu tinh thần. Đình làng với thần Thành hoàng không còn, nhưng có Chúa Giêsu Thánh Thể  luôn hiện diện trong nhà thờ để chờ đơi và ban ơn cho mọi người.

BẾN NƯỚC không còn nhưng có ĐÀI ĐỨC MẸ, là nơi hội tụ để khẩn cầu, tìm ủi an những lúc đau buồn. Maria dịu dàng hơn cả mặt trăng, êm ái ngọt ngào hơn cả bến nước, đầy ắp tình yêu của người Mẹ, để cho mỗi người đến mà tâm sự, vơi đi những sầu khổ của tâm hồn, dẫn mọi người quy tụ với nhau để Chúa Thánh Thần hoạt động.

CÂY ĐA không còn nhưng có những sinh hoạt hội đoàn, những nhóm cầu nguyện, những hoạt động Tông Đồ Giáo Dân mang sức sống thần thiêng lan tỏa vượt cả không gian và thời gian.

 LŨY TRE không còn nhưng có những Đặc Sủng và Đoàn Sủng cần thiết của Chúa Thánh Linh ban cho cộng đoàn giáo dân hoặc cá nhân để nâng đỡ và bảo vệ giáo xứ khỏi ác thần.

BÀN THỜ TỔ TIÊN vẫn còn trong sự liên đới và hiệp nhất giữa ba Giáo hội (GH trên trời, GH chiến đấu, GH đền bù ) để hỗ trợ nhau, mà người gần gũi nhất là ông bà tổ tiên đang sống trong mầu nhiệm các Thánh Thông Công cùng với con cháu trong gia tộc.

Kết quả hình ảnh cho tật xấu người vn

II/ NHƯỢC ĐIỂM

 Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: Giá trị và tật xấu cùa người Việt Nam đều do những đặc trưng nhất định của văn hóa truyền thống sinh ra. Chẳng hạn, đặc trưng tính cộng đồng làng xã mang lại những phẩm chất tốt như tình đoàn kết, tinh thần tập thể, lòng yêu quê hương, lòng biết ơn… thì đồng thời cũng là cội nguồn sinh ra những tật xấu như thói bè phái, bệnh hình thức, bệnh sĩ diện, háo danh, bệnh thành tích.

Đặc trưng tính linh hoạt mang đến phẩm chất sáng tạo, khả năng thích nghi cao thì cũng là cội nguồn sinh ra thói tùy tiện, cẩu thả, khôn vặt, bệnh thiếu ý thức pháp luật; tổng hợp các đặc trưng mang đến phẩm chất tinh tế, nhân ái, yêu nước, tinh thần dân tộc cho người Việt thì cũng mang lại luôn cả bệnh giả dối, nói không đi đôi với làm…

Con người Việt Nam từ xưa đã có nhiều phẩm chất đáng quý như lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, tính cộng đồng, tính ưa hài hòa, linh hoạt, hiếu khách, yêu chuộng hòa bình… Thế nhưng, không ít phẩm chất tốt đẹp trước kia đã bộc lộ mặt trái của mình: Tính cộng đồng tạo nên thói cào bằng không muốn người khác hơn mình, nói xấu sau lưng, ném đá giấu tay; tính ưa hài hòa khiến người ta ngại thay đổi, kìm hãm phát triển; tính linh hoạt tạo nên thói gian dối, bất tuân pháp luật…

Nền văn hóa âm tính có nhiều ưu điểm nhưng nó cũng có những hạn chế. Ví dụ, tính cộng đồng làng xã buộc tất cả mọi người phải giống nhau. Ai mà trồi lên thì sẽ bị kéo xuống, tất cả đều được cào bằng. Vì vậy, mỗi người luôn khao khát có một vị trí trong làng và vì vậy ai cũng thích hơn người khác một chút. Vì sao lại hơn một chút? Vì hơn nhiều là sẽ bị để ý, sẽ bị kéo xuống ngay. Thậm chí là bị đánh hội đồng. Cho nên ai cũng thích hơn người khác một chút thôi, hơn người được một chút là thích lắm, là sung sướng rồi.

Tính cộng đồng còn làm nảy sinh thêm một tật xấu khác là tật thích tán, thích nổ, thích khoe. Tán chuyện, buôn chuyện là đặc tính rất rõ của văn hóa âm tính. Đó là biểu hiện của những người thừa thời gian, rỗi việc cho nên hay la cà buôn chuyện. Cho nên có nhiều người Việt Nam không chỉ phụ nữ, mà ngay cả đàn ông cũng thích tán. Phụ nữ thì ngồi với nhau để tán, còn đàn ông thì buôn chuyện ở quán nhậu, quán cà phê.

Cộng với cái tính thích chém gió, thích nổ, thích khoe, thích khẳng định mình một chút thì mạng xã hội Facebook là mảnh đất màu mỡ để phục vụ cho những đặc tính này. Theo GlobalWebIndex, một cuộc khảo sát với 170 nghìn người tại 32 quốc gia khác nhau cho kết quả là Việt Nam đứng thứ 10 trong số những quốc gia có số người sử dụng Facebook nhiều nhất. Theo GlobalWebIndex, nhiều người Việt đang sống trong tình trạng “ăn” Facebook, “ngủ” Facebook, “sống ảo” với Facebook; tần suất đăng nhập Facebook của một số người Việt Nam thậm chí gần như 24/24.

TS. Phạm Gia Minh đăng trên tuanvietnam.net, đưa ra “Danh mục các thói hư, tật xấu của người Việt thời nay” như sau:

     A: An phận thủ thường; Ăn bẩn; Ăn người; Ăn cắp vặt, Ăn hơn, làm kém; Ăn tục nói phét; Ảo tưởng; Ăn xổi ở thì; Ẩu v.v…

     B: Bàng quan; Bảo thủ; Bằng cấp giả; Bán trời không văn tự; Bài ngoại; Bắt cóc bỏ đĩa; Bóc ngắn, cắn dài; Bè phái;  “Buôn dưa lê”; Bới bèo ra bọ v.v…

     C: Cãi nhau to vì chuyện nhỏ; Chen ngang khi phải xếp hàng; Chọc gậy bánh xe; Chụp giật; Chửi bậy, cục súc; Cờ bạc; Coi thường pháp luật; Cù nhầy; Cửa quyền; Cười không đúng chỗ, đúng lúc v.v…

     D: Du di; Dị ứng tri thức; Dzô dzô ( ăn nhậu thái quá ) v.v…

     Đ: Đâm bị thóc, chọc bị gạo; Để bụng; Đỏ đen; Đố kỵ; Đùn đẩy; Đua xe v.v…

     E: Ép buộc; Ép uổng v.v…

     G: Gắp lửa bỏ tay người; Gia trưởng; Giả dối; Giàu ghen, khó ghét; Giậu đổ bìm leo v.v…

     H: Hách dịch; Hiếu chiến; Hòa cả làng; Hô khẩu hiệu suông; Hứa hão v.v…

     I:  Ích kỷ hại người v.v…

     K:  Khoe khoang; Khôn lỏi; Không đúng giờ; Không chính kiến; “ Khuỳnh”; Kỳ vĩ v.v…

     L: Làm láo, báo cáo hay; Làm liều; Làm theo phong trào; Lập lờ nước đôi; Lệ làng; Lý nhẹ hơn tình v.v…

     M: Mạnh ai nấy chạy; Mất đoàn kết khi sung sướng, đầy đủ; Mê tín v.v…

     N: Ném bùn sang ao; Nịnh trên nạt dưới; Nhai to; Nhậu nhẹt triền miên; Nhổ bậy; Nhếch nhác; Nghĩ ngắn hạn ( tư duy nhiệm kỳ ); Ngoáy mũi nơi đông người; Nói dai, nói dài, nói dại; Nói một đằng, làm một nẻo; Nói to nơi công cộng; Nói phách ( nói khoác lác); Nể nang; Nửa vời v.v…

     O: Oai hão; Ôm đồm; Ôm rơm rặm bụng; Ông giơ chân giò, bà thò nậm rượu ( thông đồng làm việc khuất tất ) v.v…

     P: Phép vua thua lệ làng; “Phong bì” ( hối lộ); Phô trương; Phung phí v.v…

     Q: Qua cầu rút ván; Qua loa đại khái; Quan liêu; Quan trọng hóa vấn đề; Quy hoạch treo v.v…

     R: Ra oai; Ranh vặt; Rượu chè v.v…

     S: Sai hẹn; Sĩ diện hão; Sính ngoại; Sợ trách nhiệm; Sợ người khác giỏi hơn mình v.v…

     T:  Tâm lý vùng ( địa phương hẹp hòi ); Tiểu nông, tiểu trí; Tiểu xảo; Tiểu khí ( tiểu nhân, hạn hẹp ); Tham nhũng; Thấy kẻ sang bắt quàng làm họ; Thụ động; Tư duy nhiệm kỳ; Tự ti dân tộc nhược tiểu v.v…

     U: Ưa xiểm nịnh; Ức hiếp kể yếu; Ừ hữ cho qua; Ương ngạnh v.v…

     V: Vặt vãnh; Vẽ vời; Vênh váo; Vị kỷ; Vị nể; Viển vông; Viết, vẽ bậy nơi công cộng; Vòi vĩnh; Vung tay quá trán v.v…

     X:  Xa dân; Xa rời thực tế; Xả rác nơi công cộng v.v…

     Y:  Ỷ lại; Ỷ quyền thế; Ý thức tập thể, cộng đồng kém v.v…

Còn theo Viện nghiên cứu xã hội học Hoa Kỳ thì người Việt có 10 tố chất cơ bản sau:

1. Cần cù lao động song dễ thỏa mãn nên tâm lý hưởng thụ còn nặng.

2. Thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó với các khó khăn trước mắt, thiếu tầm tư duy dài hạn và khả năng biện luận chủ động.

3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm) .

4. Vừa thực tế, vừa mơ mộng, song lại không có ý thức nâng lên thành lý luận.

5. Ham học hỏi, hiểu nhanh, song ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, người Việt ít khi học tập vì đam mê kiến thức (nhỏ thì học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm) .

6. Cởi mở và hiếu khách, song không bền.

7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô bổ (sĩ diện, khoe khoang) .

8. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh khó khăn, bần hàn, còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất hiếm thấy

9. Yêu hòa bình, nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, để tiểu tiết làm hỏng đại cuộc. Ham cái lợi gần mà quên việc lớn.

10. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (Cùng một việc, một người làm thì tốt, hai người làm thì kém, ba người làm thì hỏng).

Chung quy, người Á Đông có nguồn gốc từ nông nghiệp, nên âm tính rất nhiều, có khuynh hướng thiên về cảm tính, lý tính ít được chú trọng. Nhất là người Việt Nam, với nền văn hóa lúa nước, nên âm tính càng nặng, gọi là “văn hóa âm trong âm”, nên có nhiều nhược điểm và chậm phát triển. Để được quân bình, tránh được những nhược điểm đáng tiếc, triết lý Đông phương đã giúp con người điều chỉnh lấy lại quân bình rất hữu ích, triết học được gọi là Đạo học, tiêu biểu nhất là Khổng, Phật và Lão. Tuy nó cao siêu nhưng ai cũng có thể áp dụng được, từ thấp lên cao, tùy theo căn cơ tu dưỡng của mỗi người, và nhất là được giáo dục toàn diện, trách nhiệm thuộc về chiến lược của những người lãnh đạo đất nước.

(Tham khảo: “Cơ sở Văn hóa Việt Nam”của GS.TS. Trần Ngọc Thêm, và trích một số tài liệu khác)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *