CÁC THỂ LOẠI THƠ

THƠ LỤC BÁT

Một thể thơ cách luật cổ điển, được coi là thuần túy của người Việt; đơn vị cơ bản gồm một cặp hai câu đi liền nhau, câu trên 6 tiếng (lục) và dưới 8 tiếng (bát), trình bày dưới dạng câu dài, câu ngắn, so le nhau. Số câu của bài thơ làm theo thể này là không hạn định: có thể chỉ gồm một cặp hai câu như nhiều câu ca dao, tục ngữ, có thể gồm hàng ngàn câu như các truyện thơ nôm và các diễn ca lịch sử.

Về vần: thể thơ này dùng cả vần lưng (yêu vận) lẫn vần chân (cước vận). Tiếng thứ sáu của câu lục hiệp vần với tiếng thư sáu của câu bát (vần lưng), tiếng thứ tám của câu bát này lại hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu lục tiếp theo (vần chân). Ví dụ:

Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéoghét nhau.

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Về phối thanh: ở cả câu lục, câu bát các tiếng thứ tư phải là thanh trắc; các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là thanh bằng. Nhưng tiếng thứ sáu và tám trong cùng một câu bát phải là khác thanh so với nhau (tức là tiếng thư sáu là thanh huyền thì tiếng thứ tám phải là thanh không, hoặc ngược lại).Ví dụ:

Tiếng chuông trấn vũ, canh thọ xương”(ca dao) hoặc:“giúp dân dưng nước xiết bao công trình”.

Riêng tiếng thứ hai ở câu lục hoặc câu bát có thể linh động, là bằng hay trắc cũng được. Ví dụ:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Chẳng lịch cũng thể con người thượng kinh (ca dao)

Lục bát còn có những dạng biến thể. Vần có thể là vần trắc. Ví dụ:

Tò vò mà nuôi con nhện,

Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi (ca dao)

Vần lưng có thể gieo ở tiếng thứ tư câu bát. Ví dụ:

Bầm ra ruộng cấy bầm run,

Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non (Tố hữu)

Cũng như nếu yêu vận bình của câu lục bắt vần với chữ thứ 4 của câu bát thì điệu đôi câu bát biến ra b – b (tuy là cùng tiếng bình mà phải khác cung trường đoản). Ví dụ:

Ai đi bờ cỏ một mình

Có nợ ân tình phải ghé thăm nhau

                                           b               t             b

                                                      Hoặc như:

Bóng ai thấp thoáng vườn đào

Phải duyên cô nào thì cứ việc ra

                          b                      b

Ngoài ra trong thể lục bát cũng cần chú ý thêm nhịp và đối. Mỗi cặp lục bát 14 tiếng là một đơn vị hoàn chỉnh cả về ngữ nghĩa, ngữ âm, ngữ điệu và nhịp điệu, lạ có thể ngắt ra thành đơn vị tiết tấu như ngắt thành nhịp 2, nhịp 3, nhịp 4… tạo nên sự uyển chuyển, diễn tả linh hoạt tình cảm của con người. Ví dụ về nhịp 2:

Buồn trông / cửa bể / chiều hôm,

Thuyền ai / thấp thoáng / cánh buôm / xa xa.

Nhịp 3 và 4:

Mai cốt cách / tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười.

Tuy nhiên, rất hiếm những câu lục bát thuần nhất nhịp 2, 3, hoặc 4… mà thường có lối ngắt nhịp xen kẽ, hỗn hợp. Thể lục bát không buộc phải có đối, nhưng người sáng tác có thể đưa tiểu đối vào từng câu lục hoặc câu bát nhằm làm nổi bật một ý nghĩa nào đó. Ví dụ:

Khách tình lại nhớ thuyền tình,

Thuyền tình lại nhớ khách tình là duyên.

                                                    (ca dao)

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn. (Huy cận)

THƠ THẤT NGÔN

Những điều cần nhớ:

* Luật chung: Nhất tam ngũ bất luận; nhị tứ lục phân minh

Nhưng mà trong mỗi câu, chữ thứ năm phải nghịch âm với chữ thứ bảy thì mới êm. Còn chữ thứ ba, ở mấy câu có vần, nếu là vần bình bình ta nên đặt bình bình, chứ đặt trắc bình thì không êm. Như thế chữ thứ nhất mới thật là bất luận mà thôi. Vì người ta xem một bài thơ , biết giá trị âm điệu của nó thế nào là do ở ba tiếng then chốt ấy (nhất tam ngũ).

Chỗ bắt buộc phân minh thì ai cũng làm theo. Duy có mấy chỗ bất luận, mà ta đạt sao cho êm thơ mới hay, dầu niêm luật không sai.

Tuy phân biệt có hai bình: bình thượng bình hạ, và có ba trắc: trắc thượng thanh (những chữ có dấu hỏi, ngã – cả, nhã, bè, nhẽ…) , trắc khứ thanh (dấu sắc, dấu nặng – đá, má, mặn, đạn…)và trắc nhập thanh (ở cuối có mấy chữ c, ch, p,t – cách, mách,các, lác, lập, cập,mát, tát…), nên trong mỗi câu, phải dùng tiếng nặng tiếng nhẹ xen kẽ với nhau thì đọc mới êm.

nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh, song chữ thứ ba , nhất là trong mấy câu có vần, phải bình bình trắc trắc thì không sao, còn phải trắc trắc bình bình mà đặt trắc bình khổ độc.

Đặt được: Non nước còn mơ hồn nghĩa hiệp

                Giống nòi thêm nặc gánh tồn vong

Thì êm tai biết mấy.

Như câu: Đất lợp tro tàn rụi cỏ hoa.

Chữ thứ ba tro âm bình thì phải, mà ta thử đặt: Đất lợp lửa tàn rụi cỏ hoa. Như vậy là khó nghe hơn.

* Thơ ngũ ngôn và thơ thất ngôn cũng vậy, một cặp hai đuôi bình, đặt bình hạ (có dấu huyền) cả hai không lỗi, nhưng đọc nghe không êm. Như đặt hai bình thượng thì khá hơn, nhưng phải đặt một bình thượng một bình hạ thì mới là êm.

Ví dụ: Văn chương lỗi lạc thật không ngờ,

          Rõ thấu tình thương chẳng bến bờ.

Đọc nghe nặng lắm.

Còn như: Lỗi lầm sơ thất cũng không sao,

               Vội vã hồi âm đã qúa mau

Nghe dễ hơn, nhưng cũng không thật êm bằng hai câu:

Từ thủa vương mang mối chỉ hồng,

Lòng này ghi tạc có non sông.

                                            ( Phan Thanh Giản)

Thơ ngũ ngôn khi chữ thứ hai và thứ năm, thơ thất ngôn khi nào chữ thứ tư và chữ thứ bảy đều là tiếng bình, thì phải đặt một bình thượng (bình trường) một bình hạ (bình đoản) mới phải. Đặt hai bình thượng còn hơn là hai bình hạ mặc dù không lỗi. Còn khi nào chữ thứ hai và chữ thứ bảy đều là tiếng bình, thì phải đặt một thượng một hạ nghe mới êm.

* Những chứ thứ hai, thứ năm và thứ sáu, không nên đặt một âm trắc, không êm tai.

Tuổi trẻ chưa vui thú ngọc tuyền thì nghe êm tai, mà: Tuổi trẻ nào vui những cảnh thiền thì không êm tai, dù không lỗi.

* Hai chữ bình hoặc hai chư trắc gần nhau mà đặt một âm thì cũng không êm.

Hứng cảm ai xui tảm việc nhà

Hứng cảm ai xui ngóng bóng thiền

Thượng uyển cây xây thành đỏ trắng

Đều không êm tai tuy là không lỗi.

* Bốn điều nên tránh:

– Tự thô: Dùng chữ thô, không thanh nhã, như những tiếng chửi thề, những tiếng tục.

– Cốt tục: Ý tứ không thanh, thơ không cao thượng.

– Ý tạp: Thơ không nghiêm.

– Lý đoản: Lời lẽ không mạch lạc, thơ không thuần nhất, ý tứ bời rời.

NHỮNG SÁNG KIẾN:

Các thi sĩ có nhiều sáng kiến về thơ, đóng góp cho thi đàn nhiều nét sáng tạo phong phú và độc đáo. Như:

* Song tuyệt (Vần song liên châu): Mỗi điệu thơ chỉ gồm hai câu. Vần trắc đoạn trước thông với vần trắc đoạn sau, vần bắng đoạn trước thông với vần bình đoạn sau, diễn tiến như thế từ đầu đến cuối. Âm thanh đáp ứng nhau như hai xâu chuỗi ngọc nên gọi là Vần song liên châu. Dùng cho cả ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… Ví dụ:

Phẩm hàm xưa chán đường nô lệ

Dư luận nay tường chuyện nhục vinh

Thanh nghị còn ai bàn quốc tế

Văn đàn thôi cũng chuyện mưu sinh

Ngọc dung thêm sáng màu hoa lệ

Thương hải càng e khách bạc tình

Thao thức đêm nào vần nguyệt xế

Ham vàng ai nỡ phụ tâm minh ?

……………………

Những chữ lệ, kế, lệ, xế ở cuối các câu 1,3,5,7 có vần với nhau. Những chữ vinh, sinh, tình, minh ở cuối các câu 2,4,,6,8 có vần với nhau.

Người ta còn gọi đây là vần cách, nghĩa là những chữ cuối là trắc rồi bằng, hoặc bằng rồi tới trắc.

Thông thường mỗi khổ thơ có 4 câu gọi là tứ tuyệt, tác giả có thể rút lại thành song tuyệt, và cũng có thể gieo vần song liên châu làm cho âm hưởng trùng điệp phong phú. Ví dụ:

NHỚ VỀ THU TRƯỚC

Có một bài thơ tư thủa trước

Bây giờ em đọc thấy sầu xưa

Có người năm ngoái cho gương lược

Lược vỡ gương tan tự bấy giờ

Có một hoa vàng trong gió lướt

Bay về bến cũ khách ngồi trơ

Có người thiếu nữ đôi ôi ướt

Thấy gió thu về dệt áo tơ

Có ngưới đi học soi dòng nước

Xé vở ra mà chép ý thơ

Tôi nhớ người yêu tự độ trước

Thu này không biết có chồng chưa

                                     Lam Giang

Tam tuyệt: Kế tục công trình sáng chế của phong trào thơ mới, thi sĩ còn dùng thơ Tam tuyệt, 3 câu:

THAO THỨC

Anh còn nhớ mãi ngày ly biệt

Mưa gió vùi chôn ánh nắng vàng

Ly biệt một lần rồi đoạn tuyệt

Bụi đường mờ mịt nẻo Phan Rang

Định mệnh hoa tàn oan khổ thiệt

Huyền cầm nức nở hận mang mang

Em về gió cát đường hư ảo

Anh vẫn còn nguyên nỗi nhớ nàng

E sợ thu tàn đêm gió bão

Còn gì hương phấn chốn đài trang

Mùi hương nguyên vẹn vương tà áo

Kỷ niệm trần tư thiếp phụ chàng

Nửa vòng thế kỷ thăm người cũ

Di ảnh còn lưu nét diễm trang

Anh đem bút mực ghi tình sử

Đời có ai  tin chuyện đá vàng

Mộ chí lâu ngày rêu mấy lớp

Gọi em nào có tiếng dư vang

                            Lam Giang

Người ta còn gọi đây là vần ôm, nghĩa là t b t hoặc bt b tính chữ cuối mỗi khổ thơ.

Và cũng có thể bội số cho Tam tuyệt thành lục tuyệt.

Hoặc có khi hình thức tứ tuyệt dùng lối vần Song liên châu, câu thứ nhất liền vần trắc với câu thứ b, câu thứ hai liền vần bằng với câu thứ tư. Ví dụ như bài Ông Đồ của Vũ Đình Liên.

THƠ TÁM CHỮ

TIẾT ĐIỆU

Câu thơ tám chữ có thể chia làm 2 phần hoặc 3 phần: ba chữ với năm chữ, hay năm chữ với ba chữ, hoặc ba chữ với ba chữ rồi hai chữ.

8: 3/5, 5/3, 3/2/3, 3/3/2

Ví dụ:

Em cười đi / sao em còn e ngại

Gió mưa nào gợi lại chuyện xa xưa

Hoặc:

Trống mão điểm / trời sâu tăm tối mãi

Và dòng sông Dịch Thủy nặng nề trôi

Đưa tráng sĩ lên đường / không trở lại

Lòng cô gia / đau đớn / hỏi bao người

                  Kinh Kha của Huy Thông

Hoặc:

Buồn sâu xa / như nỗi buồn / Hàn Tín

Thủa hàn vi / việc nhỏ cũng không thành

                                              Thanh Hữu

LUẬT BÌNH TRẮC

Câu thơ tám chữ có thể cắt mạch sau chữ thứ 3, thự, va chữ thứ 8.

Lại cũng có thể cắt mạch sau chữ thứ 3, thứ 6 và thứ 8.

3 5 8

T  b t

B t b

Tuy nhiên trong câu thơ trắc, nghĩa là sau cùng có tiếng trắc thì chữ thứ 3 nguyên là tiếng trắc, có thể đặt bình.

3 5 8

B b t

Trong trường hợp cho âm điệu vào chữ thứ 3, thứ 6, thứ 8 thì vẫn phải thực hiện thế quân bình.

3 6 8

T b t

B t b

Vẫn miễn trắc cho chữ thứ 3, tùy ý đặt bình.

Ví dụ:

Người là nàng, ta gặp nàng đêm trước

Hận đêm trăng, sương thoảng bóng nàng đi

Gởi hồn theo say một phút sầu bi

Nàng là hận, ta cùng nàng gần gũi.

Ta có thể dùng thể cách hỗn hợp, âm điệu câu thơ căn cứ vào chữ thư 3, hai chữ 5-6 thành một khối, nghĩa la cùng một thanh bình hay một thanh trắc với nhau.

3 5-6 8

T  b-b t

B t-t  b

Chữ thứ 3 trong câu thơ trắc vẫn được miễn luật.

Ví dụ:

Cuối phương tây, bóng hoàng hôn le lói

Càng nghe thêm, càng thấm thía tình thương

                                                    Hoàng cầm

Trong bài thơ 8 chữ nhiều câu, ta có thể kiêm dùng cả ba thể cách.

3 – 5 – 8 , 3 – 6 – 8 , 3 – 5-6 – 8

Ví dụ:

Nếu em bảo hoa đời còn đẹp mãi (3-5-8)

Thì than van. Khóc lóc mà làm chi (3-5-8)

Lòng đau khổ nhưng nụ cười vẫn nở (3-6-8)

Ái ân xưa năm tháng có ra gì (3-5-8)

Chuyện tâm tư đã vùi sâu đáy mộ (3-6-8)

Em ơi em ! Hẹn lại mảnh trăng thề (3-5-8)

Mái tóc nào giăng lạnh nẻo phòng khuê (3-5-8)

Để người cũ đêm về trên cánh mộng (3-5-8)

Hoặc như:

Sầu một thủa mà đê mê vạn kiếp (3-6-8)

Trăng nào soi cho rạng rỡ tâm tư (3-5.6-8)

Bụi kinh kỳ ai ghé lại mao lư (3-6-8)

Ai hướng nghĩa vẫn đợi chờ…cách biệt (3-6-8)

Người ta cũng thường xen vào trong thơ 8 chữ đôi ba câu câu thơ 9 chữ. Nó không phải là thể thơ độc lâp có thể dùng suốt bài như thơ tám chữ được, nhưng tiết điệu, âm thanh phải căn cứ vào chữ thứ ba, thư sáu và thứ chín.

Ví dụ:

Ánh trăng lạnh vọng tiếng gà, ai vẫn đợi (t b t)

Chờ tin thơ mòn mỏi cả mùa xuân

Hoặc:

Gió quát bên tai Vương và rộn rã

Tiếng quân reo tiếng ngực hí, tiếng loa vang (b t b)

Hoặc như trường hợp miễn luật cho chữ thứ ba (dáng trắc đặt bình) của câu thơ trắc:

Ta chờ em suốt mùa thu nuôi ảo tưởng

Tuy xa xôi mà tưởng tượng vẫn như gần.

THƠ LỤC NGÔN

Lục ngôn nguyên là điệu thơ cố hữu của người Việt thịnh hành vào khoảng Trần-Lê. Chúng ta thấy nó được dùng xen với thất ngôn luật thi. Ví dụ:

Am bạch vân rồi nhàn hứng

Dặm hồng trần biếng ngại chen

Ngày chầy họp mặt hoa là khách

Đêm vắng hay lòng nguyệt ấy đèn

                      Nguyễn Bỉnh Khiêm

Có nhiều bài thơ dài làm toàn bằng lục ngôn. Ví dụ:

MÀU ÁO KINH KỲ

Rợp mát lòng xanh đại lộ

Gió lay làm tóc ai cười

Lung linh như màu trăng vỡ

Như niềm tê tái lên môi

………….

Ưu điểm của điệu lục ngôn là diễn tả được những tâm sự bâng khâng, hiền hoà. Âm điệu trầm trầm, bình bình, lửng lơ. Không thích hợp với những tâm tư phấn khích, sôi nổi.

Một câu thơ lục ngôn có thể chia làm 2 phần tử tiết điệu hoặc 3 phần tử tiết điệu: 6 = 3/3 hay 2/2/2.

THƠ HỢP THỂ

Thơ hợp thể là dùng nhiều điệu thơ trong một bài, vì mỗi điệu thơ có một phong thái riêng, thích hợp với cảm hứng có nhiều trạng thái phức tạp. Thi nhân có quyền và có bổn phận lực chọn những điệu tương xứng với sự diễn tiến sống động của tình cảm. Khi lòng buồn, điệu thơ phải trầm, khi lòng phấn khởi, điệu thơ phải dồn dập. Nhịp điệu của thơ và nhịp điệu của tình cảm phải phù hợp, tương ứng, tương xứng với nhau.

Đại lược thì:

– Điệu tứ ngôn có vẻ thuần hậu, chất phác

– Điệu ngũ ngôn lời nhanh, ý gọn, mạnh mẽ

– Điệu lục ngôn nhàn nhã, trầm trầm

– Điệu thất ngôn có vẻ cổ kính, trang nghiêm

– Điệu thơ tám chữ có vẻ hùng hồn, hoạt bát

– Điệu lục bát có vẻ nhẹ nhàng, êm dịu

Được tự do chọn lựa điệu thơ, nhưng phải nhớ một định lý cơ bản: chuyển điệu liên vận.

Liên vận là vần của điệu này với vần của điệu kia phải có sự liên lạc cần thiết. Những vần lạc lõng, bơ vơ, kiểu “cô nhạn nhập quần” (nhạn lẻ bay vào bày) sẽ di hại cho âm hưởng toàn bài, toàn điệu.

Vần điệu phải kế tục liên tục như cái thế một làn sóng, một làn sóng khác nổi dậy, âm hưởng phải quán thông suốt từ đầu đến cuối, vì dòng thơ là một dòng tâm lý được diễn thành lời. Không có lãnh vực nào thuận tiện cho việc sử dụng thơ hợp thể bằng kịch thơ.

Giảng luận kỹ thuật một bài thơ hợp thể “say đi em” của Vũ Hoàng Chương:  ………..

Dù điệu thơ nào, luật thơ nào, hay có khuynh hướng gì thì mục đích cuối cùng vẫn là truyền cảm, cho nên phái nào cũng có khuynh hướng coi trọng điệu thơ nhạc của Verlaine:

THI PHÁP (ART POÉTIQUE)

Nhạc luật trước tiên thơ số lẻ

Dịu dàng phảng phất cánh thơ bay

Văn từ chính xác đừng nô lệ

Ẩn hiện huyền ca dễ đắm say

Mắt đẹp sau rèm trưa nắng nhạt

Thu sang rừng biếc ánh sao thưa

Nhẹ màu nhẹ nữa mờ hương sắc

Hoài mộng triền miên thoảng trúc tơ

Trí ngữ hài văn khoe xảo quyệt

Nụ cười ô trọc tủi phuờng xanh

Vặn cổ hùng tài ưa biện thuyết

Sẵn đà phấn khởi tiến lên anh

Vần thơ phải liệu vào khuôn phép

Ai để cho mày được phiếm du

Di hại văn chương vần mạt kiếp

Hỏi người sáng tạo một phường ngu

Trời rộng muôn ohương mộng ảo huyền

Âm thanh kiều diễm trúc tơ liên

Sương thơm gió sáng vần thơ nhẹ

Lan toả mùi hương huệ nép duyên

Thực hiện thi tài mong được thế

Ngoài ra thi phú nói thêm nhiều

               Bản dịch của L. Giang

ĐỐI

            Mỗi cặp đối có hai câu, câu trên và câu dưới. Mỗi câu tuỳ theo số chữ ít nhiều, đều có niêm luật riêng. Mỗi chữ ở câu dưới phải nghịch âm với chữ trên.

            Trong các bài thi phú có những câu đối ở mỗi chỗ nhất định, ít là bốn chữ, nhiều là mười lăm mười bảy chữ, ít khi dài hơn.

            Ngoài ra có câu đối hai ba chữ hay nhiều hơn, đến cả trăm chữ. Còn có khi làm câu đối trơn, để tặng, để giễu, để hứng cảnh… thể gọi là câu liễn. Tên thì có khác, mà niêm luật vẫn như nhau.

PHÉP ĐỐI

            Đối nghĩa là chữ này chọi với chữ kia về âm (bình trắc) và về nghĩa.  Câu trên mấy chữ thì câu dưới cũng mấy chữ. lấy ý đối ý, việc nọ với việc kia, cảnh này với cảnh nọ, trớ trêu với trớ trêu, láy với láy. lấy tiếng trắc đối với tiếng bình, mà hai tiếng đối nhau phải một loại với nhau: danh từ đối với danh từ, hình dung từ đối với hình dung từ, động từ đối với động từ… chữ Hán đối với chữ Hán, tiếng đôi đối với tiếng đôi, tên người tên xứ đối với tên người tên xứ…

            Thí dụ: Đêm ngụ ngoại thành đêm não nuột,

                         sớm về trong nội sớm yên thân.

Tên người: Bến nam Chức Nữ trông mòn mắt,

                   Phía bắc Ngưu Lang nhớ bạc đầu.

Hoặc:   Đón nguyệt ngâm thơ khen giọng Đỗ,

           Thưởng hoa nâng chén tựa giường Trần

Chức Nữ, Ngưu Lang là tên hai tình nhân; Trần, Đỗ tên Trần Phồn, Đỗ Phủ.

1- Đối ý: Câu trên nói việc này, thì câu dưới lấy việc khác mà nói.

    Thí dụ:  Gió dựa tường ngang lưng gió phẳng,

                 Trăng dòm cửa sổ mặt trăng vuông.

               Sóng mài nghiên biển ngòi non chấm,

              Gió trải tờ mây chữ nhạn đề.

2- Câu trên hai ý, câu dưới cũng hai ý:

    Thí dụ: Một khúc cùm liêm ngồi thế đế,

                 Hai vòng xiềng sắt đứng thời vương.

3- Câu trên tiếng đôi, số, tên vật, câu dưới cũng phải tiếng đôi, số, tên vật:

Tiếng đôi (kép): Sau cửa thướt tha đôi cụm liễu,

                                      Trước hồ phất phới ít cành mai.

                          Con rể nết na xem tử tế,

                         Ông chồng cay đắng kể công phu.

Nết na, tử tế, cay đắng, công phu đều là từ kép. Chữ phu là chồng lại đối với tế là rể, công là cha chồng đối với tử là con.

Dùng số: Ba ngàn thế giới thâu vào cánh,

               Chín chục thiều quang liệng giữa trời.

Dùng tên vật: Đón nguyệt, nguyệt khêu đều dưới liễu,

                       Nhìn hoa, hoa xúi chuyện trong dâu.

4- Câu trên tiếng đôi, có vần hay một âm, thì câu dưới cũng vậy:

Thí dụ: Đêm lạnh thiu, hiu hiu bấc thổi,

            Ngày nồng nực, phực phực nồm bay.

Hiu hiu một vần với thiu thì phực phực cũng một vần với nực.

5- Vế trên cảnh này thì vế dưới cảnh nọ:

Vồn vã tiếng dương ngâm lại đọc,

Rõ ràng cánh én điểm rồi phê.

Sáng sớm nâng niu ba chén cúc,

Chiều tàn xướng hoạ mấy vần thơ.

6- trên nói thắc mắc nói láy thì dưới cũng thắc mắc láy lại:

Ngói đỏ lợp nhè, tấm trên đè tấm dưới,

Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên.

Cá đối nằm trong cối đá,

Cò lửa đứng trước cửa lò

Ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu,

Kiến bò dĩa thịt, dĩa thịt bò.

Cối đá láy với cá đối thì cửa lò láy với cò lửa. Mâm xôi đậu mà ruồi đậu trên đối với dĩa thịt bò có kiến bò dưới.

Danh ngôn, tục ngữ… với nhau:

Vẽ cọp vẽ da, xương khó vẽ,

Dò người dò tiếng, ý khôn dò.

Chim nọ bị tên nghi tấc bóng,

Cá kia khỏi lưới ngại đới đàng.

SỐ CHỮ TRONG CÂU ĐỐI

Mỗi cặp đối có hai câu, mỗi câu gồm một hay nhiều vế, mỗi vế phải có ít nhất hai chữ, còn nhiều hơn thì bao nhiêu cũng được.

Vế đối hai chữ (bình trắc tùy ý): má phấn / môi son. Mày tằm / mắt phụng.

Vế đối ba chữ: không đặt ba trắc hay ba bình liền nhau, không đặt bình giữa hai trắc, hoặc trắc giữa hai bình. Thí dụ: gái thuyền quyên / trai văn vật. Nương cửa phật / thấu nhà trời.

Vế đối bốn chữ: Nhất tam mặc tình, nhị tứ trắc bình đối nhau. Nghĩa là trong hai câu, chữ thứ nhất và chữ thứ ba đặt sao tuỳ ý, miễn là chữ thứ hai và chữ thứ tư nghịch âm với nhau mà thôi. (tuy vậy nhưng chữ thứ nhất và thứ ba câu dưới cũng phải nghịch âm với chữ một và ba câu trên)

Như: trước còn trăng gió / sau mới đá vàng. Gần mực thì đen / gần đèn mới sáng.

Vế đối năm chữ: Chữ thứ nhất không cần, chữ thứ hai nghịch âm với chữ thứ tư và chữ thứ ba nghịch âm với chữ thứ năm.

Keo sơn đà hẹn trước / Kim cải khá vầy sau.

– Câu đối sáu chữ: Chữ thứ tư nghịch âm với chữ thứ sáu. Nếu dứt nghĩa ở chử thứ ba thi chữ thứ ba đó phải nghịch âm với chữ thứ sáu.

Nghinh ngang đầu dọc trăm quan / Đỏng đảnh miệng khua chín bệ.

Oan kết theo hồn Tinh Vệ / Lụy rới hoá huyết Đỗ Quyên.

Chó sủa ma, gà đá bóng / Trâu chém gió, thỏ giỡn trăng.

– Câu đối bảy chữ: Chữ thứ nhất và chữ thứ ba tuỳ ý, chữ thứ hai và thứ sáu phải cùng âm và chữ thứ tư khác âm với hai và sáu. Còn chữ thứ năm nghịch âm với chữ thứ bảy. Nhưng thường niêm luật nó giống câu đối bảy chữ của thơ thất ngôn đường luật.

Hai chiếc oanh vàng kêu liễu biếc

Một hàng cò trắng vút trời xa.

Ngàn thu Tây lĩnh in song lạnh

Muôn dặm thuyền Ngô đậu trước nhà.

– Câu đối tám chữ: Mỗi vế hoặc hai, sáu chữ kết lại; hoặc hai vế bốn chữ kết lại (ít dùng vì không khéo); hoặc một vế ba chữ, năm chữ kết lại hay ngược lại. Theo luật đối riêng của mỗi câu đối ba, bốn, năm, sáu chữ.

Cực bấy! Tránh thầy con còn thầy cả,

Nào hay! Ngàn cửa trước rước cửa sau.

Dứt mối tơ, vơ mối chỉ càng hay,

Quen nhà mạ, lạ nhà chồng chớ ngại.

Thói bướm hoa, nhà bạc đã không ưng,

Loài trăng gió, lầu xanh mau trả lại.

Hoa rụng cánh tàn, cùng phường lưu lạc,

Áo xanh quần thắm, một giống đa tình.

– Câu đối chín chữ: Mỗi câu hoặc lấy ba vế ba chữ mà kết thành; hay là lấy một vế ba chữ kết với một vế sáu chữ; hoặc lấy một vế bốn chữ kết với một vế năm chữ.

Đó những đành, theo phòng nọ, bỏ phòng này,

Đây cũng nguyện, bắt tóc mai, dày tóc trán.

Nào những thủa, họ bẩm  bà ban bà phủ,

Đến bây giờ, người kêu đứa nọ đứa kia.

Ngọc châu ấy phận, ăn rau đẹp bụng Di Tề,

Bùn lấm là duyên, vạch đất vui tay Tắc Khế.

Bóng trăng dọi trứng gà, thằng nhỏ xi xô,

Giọt nước xoi hang chuột, giống mèo sừng sộ.

Trống thúc mõ hồi không kể, bấu đầu ăn,

Tay quơ chân đạp chẳng nài, dang tay phá.

– Câu đối mười chữ: Kết hai vế năm chữ, hoặc ba với bảy, hay bốn với sáu chữ, trước sau gì cũng được, miễn là chữ chót phần sau phải nghịch âm với chữ chót phần trước.

Cầu Xóm Kiệu bán hành, cái chi mà hự hẹ,

Lái gò dưa mua bí, sao có chuyện mà cà.

Câu đối nhiều chữ: cũng có những câu đối hơn mười chữ hoặc nhiều hơn nữa. Cũng lấy điệu như trên mà ráp thành.

 Nói chung có hai cách đối:

– Song lập: là hai ý tưởng đi song song với nhau.

– Đối lập: là hai ý tưởng chọi nhau về phương diện tư tưởng nhưng về hình thức đặt câu thì vẫn đi song song với nhau.

PHÚ

Phú Việt Nam rập khuôn theo phú Trung Quốc. Phú là một loại văn có vần, bắc cầu giữa thơ và văn xuôi, một hình thức văn học tiêu biểu rất thịnh hành thời Hán.

Phú Việt Nam gồm có phú chữ Hán và phú tiếng việt.

Câu văn của phú được phô diễn theo luật đăng đốibằng trắc Đường phú, lúc thì gồm 4 chữ:

                                                             Vóc đẩy ba ôm

                                                             Mình cao bảy mét

                                                            Trí dũng lắm trò

Võ văn ra phết  (Đồ Phồn)

Lúc thì gồm 8 chữ, chia làm hai đoạn bằng nhau:

                                            Nhớ người đô hộ / đủ thói gian ngoan

Giả vờ nhân nghĩa / che đậy tham tàn (Tú Mỡ)

Lúc thì chia làm 2 vế, mỗi vế 6, 7 hoặc 8, 9 chữ đối nhau gọi là câu SONG QUAN:

Quyển đệ tam viết đã xong rồi, /

Bảng đệ tứ chữa ra còn ngóng. /

Lúc thì chia làm 2 vế, mỗi vế lại chia làm 2 đoạn, một đoạn dài một đoạn ngắn, hoặc trên ngắn dưới dài, hoặc nhiều hơn nữa, nhưng phải đối nhau, gọi là câu CÁCH CÚ:

                            Thầy chắc hẳn văn chương có mực, / lễ thánh xem giờ. /

Cô mừng thầm mũ áo đến tay, / gặp người nói mộng. / (Tú Xương)

Lúc thì chia làm hai vế, mỗi vế ba đoạn đối nhau, gọi là câu GỐI HẠC:

      Áo vải thô nặng trịch, / lạnh làm mền, nực làm gối, / bốn mùa thay đổi bấy nhiêu. /

     Khăn lau giắt đỏ lòm, / giải làm chiếu, vận làm quần, / một bộ ăn chơi qúa thú. / (Nguyễn C. Trứ)

Lối làm phú có thể có từ trước đời nhà Đường, có vần mà không đối câu. Lối phú Đường luật do từ đời nhà Đường đặt ra có vần, có quy luật nhất định, bố cục bao giờ cũng chia làm 6 đoạn:

1-Lung là đoạn mở bài, nói bao quát ý nghĩa đầu bài.

2– Biện nguyên là nói nguyên ủy cho rõ đầu bài.

3- Thích thực là đoạn giải thích ý đầu bài

4- Phu diễn là đoạn suy rộng ý đầu bài

5- Nghị luận là đoạn bàn về ý đầu bài

6- Kết luận là đoạn cuối thắt lại ý đầu bài

Trong mỗi đoạn, thường bao giờ mở đầu cũng là những câu 4 chữ rồi 8 chữ, rồi đến những câu song quan, cách cú, gối hạc. Cũng có nhiều khi suốt bài phú toàn những câu 4 chữ gọi là phú tứ tự, hoặc toàn những câu 7 chữ gọi là phú thất tự, hoặc theo điệu sở từ mỗi câu năm sáu chữ lại thêm một chữ hề vào cuối câu để ngắt hơi thở, hoặc dùng điệu lưu thủy như cách đặt văn xuôi, không bó buộc số chữ số câu.

Cách hạ vần của phú có khi chỉ dùng một vần suốt từ đầu đến cuối, ví dụ như bài “phú hỏng thi” của Trần Tế Xương lấy một vần bỏng, và từ đầu đến cuối chỉ có những tiếng với bỏng như: chóng, ngóng, hỏng, nóng…

Có khi phú dùng nhiều vần như bài “phú cờ bạc” có nhiều vần: cờ, bạc, là, bác, thằng, bần.

Luật bằng trắc trong Đường phú kể ở những chữ cuối vế và những chữ ngắt đoạn giữa câu. Nếu mỗi vế có một hay nhiều đoạn, thì cuối đoạn trên là bằng, cuối đoạn dưới phải là trắc hay ngược lại

 Ví dụ: Tủi bút tủi nghiên / (bằng) Hổ lều hổ chõng / (trắc)

 Hoặc: Chậu thua rửa mặt, tầm váo tầm vênh

           Điếu sứ long đờm, cóc ca cóc cách

Nguyên tắc đối nhau thì, danh từ đối với danh từ, động từ với động từ, âm thanh với âm thanh, màu sắc với màu sắc như ở cuối câu đối:

Râu rậm như chổi

Đầu to tày giành

Hàn Cư Sĩ

(Sưu tập)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *